QUI TRÌNH VẬN HÀNH VÀ SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP PHẦN 2

QUI TRÌNH VẬN HÀNH VÀ SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP(chương 4)

Chương IV: XỬ LÝ MÁY BIẾN ÁP VẬN HÀNH KHÔNG BÌNH THƯỜNG VÀ SỰ CỐ


Điều 55:
Trong khi vận hành nếu thấy máy biến áp có những hiện tượng khác thường
như  chảy dầu,  thiếu dầu,  máy bị  nóng  quá mức,  có  tiếng  kêu  khác  thường,  phát
nóng cục bộ  ở  đầu cốt sứ,bộ  ĐAT  hoạt  động không bình  thường...  phải  tìm mọi
biện pháp để giải quyết, đồng thời báo cáo với cấp trên và ghi những hiện tượng,
nguyên nhân đó vào sổ nhật ký vận hành.
Điều 56:
Máy biến áp phải được đưa ra khỏi vận hành trong các trường hợp sau đây:
1 . Có tiếng kêu mạnh không đều và tiếng phóng diện bên cạnh máy.
2.Sự  phát  nóng của  máy tăng  lên bất  thường  và  liêu tục  trong  điều  kiện  làm
mát bình thường, phụ tải định mức.
3. Dầu tràn ra ngoài máy qua bình dầu phụ, vỡ kính phòng nổ hoặc dầu phun
ra qua van an toàn.
4. Mức dầu hạ thấp dưới mức quy định và còn tiếp tục hạ thấp.
5. Mầu sắc của dầu thay đổi đột ngột.
6.  Các sứ bị rạn,vỡ,bị  phóng  điện bề mặt,  áp lực dầu của  các sứ  kiểu  kín
không nằm trong quy định của nhà chế tạo. Đầu cốt bị nóng đỏ.
7.  Khi kết  quả  phân  tích dầu  cho  thấy dầu  không đạt  các  tiêu  chuẩn của  phụ
lục1, hoặc khi độ chớp cháy giảm quá 5 độ C so với lần thí nghiệm trước.
Điều 57:
Khi máy biến áp quá tải cao hơn định mức quy định, nhân viên trực ca phải
tìm biện pháp điều chỉnh và giảm bớt phụ tải của máy.
Điều 58:
Khi  nhiệt  độ dầu  trong  máy  biến  áp tăng  lên  quá mức  giới hạn,  nhân  viên
trực ca phải tìm nguyên nhân và biện pháp để giảm bớt nhiệt độ bằng cách:
1 . Kiểm tra phụ tải của máy biến áp và nhiệt độ môi trường làm mát.
2. Kiểm tra thiết bị làm mát, tình hình thông gió của buồng đặt máy.
Nếu  nhiệt  độ của  máy  biến  áp  lên  cao  do  thiết bị  làm  mát bị hỏng  mà  có
điều  kiện cắt  máy  để sửa  chữa  thì  nên cắt  máy  để sửa  chữa,  khi  điều  kiện vận
hành  không  cho  phép cắt  máy  hoặc  khi  không cần cắt  máy vẫn  có  thể sửa  chữa

được  thì  chỉ cần  ngừng  riêng  thiết bị  làm  mát,  đồng  thời  nhân  viên  trực  ca  phải
điều  chỉnh  giảm bớt  phụ tải  cho  phù hợp với  công  suất của  máy  biến  áp  trong
điều kiện vận hành không có thiết bị làm mát.
Điều 59:
Nếu mức dầu hạ  thấp mức  quy  định  thì  phải bổ  sung dầu.  Trước  khi bổ
sung dầu phải sửa chữa những chỗ rò,bị chảy dầu.
Nếu  vì  nhiệt  độ tăng  cao  mà mức dầu  trong  máy  biến  áp  lên  cao  quá vạch
quy định thì phải tháo bớt dầu khỏi máy.
Nếu mức dầu  trong  các sứ  có dầu hạ  thấp gần hết  ống  thuỷ  chỉ mức dầu
hoặc khi áp lực dầu trong các sứ kiểu kín thấp dưới mức quy định thì phải nạp bổ
sung dầu và tìm nguyên nhân để khắc phục. Khi bổ sung dầu phải theo đúng quy
định của nhà chế tạo để tránh lọt khí vào sứ.
Điều 60:
Khi rơle hơi tác động báo tín hiệu phải xem xét bên ngoài máy  bi ến áp,lấy
mẫu khí trong rơle để phân tích và kiểm tra tính chất cháy của khí.
Nếu  khí  cháy  được  hoặc  trong  khí  có  chứa  những sản  phẩm  do  phân  huỷ
chất  cách  điện  phải  nhanh  chóng cắt  máy  biến  áp.  Trường hợp  chất  khí  không
sắc,  không  mùi,  không đốt  cháy  được  thì vẫn  có  thể  để  máy  biến  áp  tiếp tục vận
hành.
Rơle hơi có thể phát tín hiệu nhầm do các lý do sau:
1  .Lọt  khí  vào  máy  biến  áp  do  có sơ hở  trong hệ  thống  làm  mát cưỡng bức
hoặc không khí vào theo dầu khi lọc dầu hoặc bơm dầu mới chưa khử khí.
2. Thiếu dầu, mức dầu hạ quá thấp.
3. Xung động do ngắn mạch trên lưới làm dầu bị đẩy ngược lên bình dầu
phụ.
4. Chênh lệch áp suất trong bình dầu phụ và ống phòng nổ.
5. Sự cố, chạm chập mạch nhị thứ.
Điều 61 :
Khi  kiểm  tra  chất  khí  có  thể  cháy  được  hay  không  phải hết sức  thận  trọng,
không được đưa lửa quá gần van xả  khí của rơle hơi mà phải  để cách 5-6 cm và
hơi chếch sang một phía.
Điều 62:
Nếu  nguyên  nhân rơle hơi  tác  động  không  phải  là  do  không  khí lọt  vào
máy  biến  áp  thì  phải  kiểm  tra  nhiệt  độ  chớp  cháy của dầu  và nếu  nhiệt  độ  chớp
cháy  giảm  quá 5
0
C  so với lần  thí  nghiệm  trước  thì  phải  tách  máy  ra  khỏi vận
hành.
Nếu nguyên nhân rơle hơi tác động là do không khí ở trong dầu thoát ra thì
phải xả hết không  khí  trong rơle hơi.  Trường hợp xả  nhiều lần  không hết  không
khí thì cho phép chuyển rơle hơi sang vị trí báo tín hiệu và báo cáo ngay với cấp
trên.
Điều 63:

Căn cứ  theo mầu sắc  và  tính  chất của  khí  tích  luỹ  trong rơle hơi  có  thể sơ
bộ xác định tính chất sự cố như sau:

Điều 64:
Khi máy  biến áp bị cắt do rơle hơi hoặc rơle so lệch thì chỉ được đưa máy
trở lại vận hành sau khi  đã xem xét, thử nghiệm, phân tích mẫu khí và khắc phục
những điểm bất thường.
Nếu  việc cắt  máy  biến  áp dẫn  đến  việc  ngừng cấp  điện  cho  những
hộ sử dụng  điện  quan  trọng,  cho  phép  dùng  máy cắt  đóng lại một lần
nếu máy biến áp đó có cả bảo vệ so lệch và bảo vệ hơi nhưng chỉ bị cắt
bởi một  trong  hai bảo vệ  đó  và  không  thấy  rõ dấu  hiệu  bên  ngoài
chứng tỏ máy hư hỏng.
Trường hợp  máy  biến  áp bị cắt  do  các bảo vệ  khác  ngoài  so lệch
và rơle hơi  có  thể  đóng  máy  biến  áp  trởlại  làm  việc  không cần  kiểm
tra.
Điều 65:
Khi máy biến áp bị cháy cần phải cắt hoàn toàn điện áp khỏi máy, báo công
an cứu hoả, cấp trên và tiến hành dập lửa theo quytrình phòng chống cháy nổ.
Phải  tiến  hành xả dầu  ở  van xả dầu sự cố tại  đáy  máy nếu  điều
kiện cho phép.
Đặc  biệt  chú  ý  không  để lửa  lan  đến  các  máy  biến  áp  và  các  thiết
bị điện khác ở xung quanh.

Chương V :QUẢN LÝ DẦU MÁY BIẾN ÁP 


Điều 66:
Đối với những máy biến áp mới đưa vào vận hành cần lấy mẫu thử  nghiệm
theo các thời hạn sau:
- Với máy biến áp 110 kV, sau khi đóng điện 10 ngày, 1 tháng, tiếp theo như
điều 68 của quy trình này.
-Với  máy  biến  áp từ  220  kV  trở  lên,  sau  khi  đóng  điện  10  ngày,  1  tháng,
3 tháng, tiếp theo như điều 68 của quy trình này.
Mẫu dầu được  thử  theo  các mục từ  1 đến 6  và mục  10 của phụ lục  I.  Riêng
với  các  máy  biến  áp  có bảo vệ dầu bằng  nitơ  hoặc  màng  chất dẻo cần  thử bổ
sung thêm mục 11 .
Điều 67:
Trong  giai  đoạn  đầu mới vận  hành cần  tiến  hành  phân  tích sắc tố  khí  hoà
tan trong dầu trong thời hạn sau:
- Sau 6 tháng với máy biến áp 110 kV công suất dưới 60.000 kVA.
- Sau 3 ngày, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng với máy biến áp 110 kV công suất từ
60.000 kVA trở lên và tất cả các máy biến áp 220-500 kV.
Điều 68:
Dầu biến áp trong vận hành phải được lấy từ mẫu thử mỗi năm một lần.
Ngoài ra sau các lần đại  tu, sau khi  phát  hiện tình trạng bất thường
cần phải thử mẫu dầu đột xuất.
Nếu  xuất  hiện  khí  cháy  được  trong rơle hơi  thì cần  xác  định lại
điểm chớp cháy của dầu.
Dầu phải đạt các tiêu chuẩn theo phụ lục I.
Điều 69:
Việc lọc dầu  và lấy mẫu dầu  có  thể  tiến  hành  khi  máy  biến  áp  đã  được cắt
điện hoặc  khi máy đang vận hành. Những việc đó do nhân  viên trực ca làm hoặc
do  những  nhân  viên  khác  làm  (tối  thiểu  là  hai  người) dưới sự  giám  sát của  nhân
viên  trực  ca.Với  điều  kiện  là  lúc  đó  trong lưới với  điểm  trung  tính  cách  điện
không có chạm đất.
Khi lọc dầu  máy  biến  áp đang  làm  việc  thì rơle hơi  chỉ  để  ở vị  trí
“phát  tín  hiệu”,  còn bảo vệ rơle  khác  thì vấn  phải  để  ở vị  trí sẵn  sàng
cắt máy biến áp đó.
Điều 70:
Để  kéo  dài  thời hạn sử dụng dầu  máy  biến  áp cần  chú  ý  thay  thế
hạ thấp phụ trong các bình xi phông nhiệt và hạt hút ẩm  trong bình thở
của máy.
Lần thay hạ thấp phụ đầu tiên  tiến hành một năm sau  khi đưa  máy
vào vận  hành  và  sau  đó cần  phải  thay  khi  trị số  a  xít  trong dầu  đạt tới
0,1mg KOH  trên  gram dầu  hoặc  khi  hàm lượng  a  xít  hoà  tan  trong
nước lớn hơn 0,014mg KOH.
Hạt  hút  ẩm  trong  bình  thở  máy  biến  áp cần  phải  thay  khi  màu  chỉ
thị  đổi từ  xanh  sang hồng  nhưng  ít  nhất cũng  phải  thay  6  tháng một
lần.
Độ ẩm của hạt hấp phụ trước khi nạp vào bình lọc không vượt quá
5%.
Điều 71 :
Trường hợp cần bổ  sung dầu  biến  áp  mà  không  rõ gốc dầu  trong  máy  hoặc
không có loại dầu cùng gốc thì phải tuân theo các nguyên tắc sau:
1  .  Đối với  những  máy  biến áp  có công suất dưới  1000  kVA, điện  áp từ 10kV
trở  xuống  được  phép bổ  sung bằng dầu gốc bất kỳ,với  điều  kiện dầu bổ  sung
phải  đạt mọi  tiêu  chuẩn  thí  nghiệm  theo  phụ lục  I  và tổng lượng dầu bổ  sung
trong suốt quá trình vận hành không vượt quá 10% lượng dầu trong máy.
2. Đối với những máy biến áp có công suất 6.300 kVA và cấp điện áp từ 35kV
trở xuống được phép bổ sung dầu khác gốc với điều kiện:
a. Dầu bổ sung đạt mọi tiêu chuẩn thí nghiệm theo phụlục I.
b.Hỗn hợp dầu bổ  sung  và dầu  trong  máy  được  thử  kháng  ô  xy  hoá  và  đạt
tiêu  chuẩn  theo  phụ lục  I.Tỷlệ  pha  trộn  khi  thử  kháng  ôxy  hoá bằng tỷ lệ bổ
sung dầu trong thực tế.
c.Hỗn hợp dầu bổ  sung  và dầu  trong  máy  phải  có  trị số  tgd  thấp hơn  và  độ
ổn  định  kháng  ôxy  hoá tốt hơn  so với  các  trị sốt ương  ứng của một  loại dầu
thành phần xấu nhất khi chưa pha trộn.
3. Đối với những máy biến áp có cấp điện áp 110kV trởlên việc trộn dầu
biến áp do cấp trên quyết định.

Chương VI :SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP 

Điều 72:
Tuỳ  theo  khối lượng  công  việc  thực  hiện,  công  tác sửa  chữa  được  chia  ra
các cấp nhưsau:
-  Tiểu  tu:  Tusửa  chữa  máy  biến  áp  cócắt  điện  nhưng  không  tháo dầu  và
không mở ruột máy.
-  Đại  tu  định kỳ:  Rútbỏ  máy  hoặc  rút  ruột  máy  ra  khỏi vỏ.  Kiểm  tra sửa
chữa toàn diện máy. Có thể bao gồm cả sấy máy.
-  Đại  tu  phục hồi:  Tuỳ  theo  tình  trạng  cuộn  dây  có  thể  thay  thế  hoàn  toàn
quấn lại một  phần  hay sửa  chữacụcbộ.Cũng  có  thể  bao gồm cả sửa  chữa  lõi
tôn, phục hồi cách điện các lá tôn.
Điều 73:
Định kỳ sửa chữa đối với các máy biến áp như sau:
1 . Tiểu tu máy biến áp tiến hành theo các định kỳ sau:
- Đối với các máy biến áp có độ ĐAT: mỗi năm một lần.
-  Đối với  các  máy  biến  áp  chính của  nhà  máy  điện  và  trạm  biến  áp,  các
máy biến áp tự dùng ít nhất một lần trong một năm.
- Đối với các máy biến áp đặt ở nơi có nhiều bụi bẩn thì thuỳ theo điều kiện
cụ thể mà có quy định riêng.
- Đối với tất cả các máy biến áp khác ít nhất một lần trong 2 năm.
Việc  tiểu  tu  các bộ  ĐAT  thực  hiện  sau một số lần  chuyển mạch  theo  quy
trình của nhà chế tạo.  Tiểu tu  các hệ thống  làm  mát dạng  QG,  KD,  ND  phải  tiến
hành  hàng năm.  Đồng  thời với  tiểu  tu  máy  biến  áp  phải  tiến  hành  tiểu  tu  các sứ
đầu vào.
2. Đại tu định kỳ máy biến áp tiến hành:
Đối với tất cả  các  máy  biến  áp:  Tuỳ  thuộc  vàokết  quả  thí  nghiệm  và  tình
trạng máy.
3  .  Đại  tu  phục hồi  tiến  hành  sau  khi  các  máy  biến  áp bị sự cố  cuộn  dây
hoặc lõi tôn hoặc khi có nhu cầu cải tạo máy biến áp.
Điều 74:
Đối với các  máy  biến  áp lắp đặt mới  được vận  chuyển  không dầu bảo quản
bằng  ni-tơ cần  có  biện  pháp đẩy hết  ni-tơ  ra  khỏi  máy  trước  khi  cho  người  chui
vào. Việc đẩy ni-tơ tiến hành theo các cách sau:
1  .Bơm dầu  biến  áp đủ tiêu chuẩn theo phụ lục  I vào máy qua  van đáy cho
tới khi đẩy hết nitơ ra ngoài.
2.  Đối với  các  máy  biến  áp  có vỏ  chịu  được  chân  không  tuyệt  đối  thì  dùng
bơm  chân  không  rút  chân  không  trong  máy  đến  660mm Hg rồi xả  khí  qua  bình
silicagen vào máy. Lượng silicagen trong bình không được ít hơn 5kg.
3. Thông thổi ruột máy bằng không khí khô và sạch hoặc mở các cửa người
chui  để  thông  gió tự  nhiên.  Trong  trường hợp  này cần  chấp  hành  nghiêm  chỉnh
các  yêu cầu về mở  ruột  máy để  tránh  nhiễm ẩm.  Chỉ  cho  phép bắt dầu  làm  việc
khi hàm lượng ô-xy trong máy vượt quá 18%.
Điều 75:
Các  công  việc dễ  gây  cháy  như  hàn hồ  quang...  phải  tiến  hành  cách  ruột
máy ít nhất là 5m.
Điều 76:
Phải  có  phương  án  phòng  chống  cháy nổ tại  khu vực sửa  chữa.  Phương  án
này phải phù hợp với quy trình phòng chữa cháy cho các thiết bị điện.
Điều 77:
Nếu cần phải tiến hành hàn vỏ máy biến áp thì mức dầu trong máy phải cao
hơn điểm hàn ít nhất 200-250mm.
Điều 78: 
Để  tránh  xuất  hiện  điện  tích tĩnh  điện  khi bơm dầu  hoặc bơm  ra  khỏi  máy
cần tiếp địa các cuộn dây và vỏ máy biến áp.
Điều 79:
Trước  khi  tiến hành công tác sửa chữa cần phải  tiến hành công tác chuẩn bị
bao gồm:
1  . Chuẩn bị mặt bằng sửa chữa đủ để bố trí các thiết bị  thi công, các dung
tích chứa dầu và khi cần thiết phải có mặt bằng để rút ruột hoặc rút vỏ máy.
2. Xác định khả năng và phương pháp xử lý lượng dầu cần thiết.
3.  Chuẩn bị dụng cụ,  đồ  nghề,  nguyên vật  liệu,  thiết bị,  thiết bị  công  nghệ,
kích kéo, cầu trục...
4.  Xác  định  khối lượng  và  trình tự  thực  hiện  các  thao  tác sửa  chữa,  thí
nghiệm, hiệu chỉnh cần tiến hành.
5.Lập  tiến độ  cho  các bước  công  nghệ,  xác định số lượng,  thành  phần,  tay
nghề cần thiết của đội sửa chữa.
6.  Chuẩn bị  nguồn  điện,  nguồn nước  thi  công căn cứ  vào  nhu cầu của  các
thiết bị công nghệ và nhu cầu sấy máy biến áp.
7.  Chuẩn bị  các  tài  liệu kỹ  thuật,  các mẫu  biên bản sửa  chữa  và  biên bản
thí nghiệm cần thiết đểt hực hiện công việc cũng như để bàn giao sau này.
8.  Chuẩn bị  phương  án  phòng  chống  cháy nổ,  phổ  biến  phương  án  này  và
các quy trình đại tu, quy trình kỹ thuật an toàn cho toàn thể đội sửa chữa.
Điều 80:
Tuỳ  thuộc  kích  thước vỏ  và  trọnglượng  máy  biến  áp  có  thể  được  chuyên
chở theo các cách sau:
1  .  Được lắp đầy đủ bình dầu phụ, cánh tản nhiệt, đổ đầy dầu đến mức vận
hành.
Cách  này  chủ yếu  dùng  cho  các  máy  biến  áp  đến  35kV,  công  suất dưới
10.000 kVA, làm mát bằng tuần hoàn dầu tự nhiên.
2.  Tháo dời  bình dầu  phụ,  cách  làm  mát,  được  đổ dầu  đến  cách mặt  máy
200- 250mm.
Cách  chuyên  chở  này  áp dụng  cho  các  máy  biến  áp  công  suất từ
16.000 kVA trở lên hoặc điện áp 110 kV trở lên.
3. Chuyên chở không dầu, có thiết bị phụ nạp ni tơ trên đường. Thiết bị này
bảo đảm duy trì áp lực ni-tơ 0,4 KG/cm
2
trong vòng 30 ngày.
Cách  chuyên  chở  này  áp dụng  cho  các  máy  có  công  suất lớn.Nếu
thời gian chuyên chở lớn hơn 30 ngày thì phải thay thế các bình ni-tơ.
Điều 81:
Đối với các máy biến áp mới và lắp ngay sau khi máy được chuyên chở đến
vị trí lắp đặt cần kiểm tra.
1  .  Tình  trạng  chằng  buộc  máy  trên  phương  tiện vận  chuyển.  Các vệt sơn
đánh dấu trên vỏ máy và trên sàn xe phải trùng nhau.
2.Nếu  máy  được  chuyên  chở  không dầu  có  phụ nạp  ni-tơ  thì  áp lực  trong
máy phải trong khoảng 0,4KG/cm
2
.
3.  Tình  trạng vỏ  máy,  các kẹp  chì  niêm  phong,  các  gioăng,  các  van  trên
máy,tất cả  phải  còn  nguyên vẹn,  trên vỏ  máy  và  trên  sàn  xe  không  được  có vết
chảy dầu.
4.  Tình  trạng của  các sứ  đầu  vào  và  các  phụ  kiện  tháo rời  khác của  máy.
Các  chi  tiết  này  không  được  có  các hư hại cơ học.  Khi  phát  hiện  tình  trạng bất
thường cần lập biên bản với đơn vị vận chuyển máy biến áp.
5. Kiểm tra chốt định vị không suy chuyển.
Điều 82:
Việc cẩu hạ  máy  biến  áp  được  thực  hiện bằng cần  trục  có sức nặng  phù
hợp.Vị  trí  móc  cáp  phải  đúng nơi  quy  định của  nhà  chế tạo.  Tuyệt  đối  tránh  để
cáp cẩu tỳ vào sứ cách điện của máy.
Đối với  các  máy  biến  áp cỡ lớn  việc hạ  máy từ  phương  tiện vận  chuyển
xuống  được  thực  hiện bằng  cách  dùng tời  hoặc  xe  kéo  máy  trượt  trên  các  thanh
ray  đặt dưới  đáy  máy  trên  các lớp  tà-vẹt.  Các  thanh  ray  này  phải  đặt cạnh sống
chịu lực của đáy máy và có số lượng như sau:
- Ít nhất là 2 thành với trọng lượng máy dưới 60 tấn
- Ít nhất là 3 thanh với trọng lượng máy dưới 120 tấn
- Ít nhất là 4 thanh với trọng lượng máy dưới 220 tấn
- Ít nhất là 6 thanh với trọng lượng máy vượt quá 220 tấn.
Việc  nâng  máy  biến  áp cỡ lớn  được  thực  hiện bằng  các  kích  thuỷ
lực.  Kích  phải  đặt  đúng vị  trí  do  nhà  chếtạo  quy  định.  Khi  nâng dần
đầu máy phải bảo đảm độ nghiêng của máy biến áp không quá 3%.
Nếu  máy  đã  được lắp  bánh  xe  có  thể  kéo  máy  di  chuyển bằng tời  hoặc
palăng. Tốc độ kéo không được quá 8m/phút trên những đoạn đường bằng phẳng
có  độ uốn  không  quá  2mm  trên  1  mét  chiều  dài.  Cho  phép  kéo cả  hai  chiều dọc
và  ngang  đối với  những  máy  biến  áp  có  4  bánh  xe  và  cho  phép  kéo  theo  chiều
ngang với  những  máy  có  trên  4  bánh  xe  trên  những  đoạn  đường dốc  không  quá
2%.
Điều 83:
Không  quá  10  ngày kể từ  khi  nhận  được  máy  biến  áp cần  phải  đánh  giá sơ
bộ tình trạng cách điện của máy nhưsau:
1  .  Đối với  các  máy  biến  áp cỡ  nhỏ  được  chuyên  chở với  bình dầu  phụ lắp
sẵn và đổ đầy dầu kiểm tra:
- Mức dầu trong bình dầu phụ.
- Điện  áp  chọc  thủng của dầu.  Các  thông số của dầu phải  phù hợp với phụ
lụcI.
2.  Đối với  các  máy  biến  áp  được vận  chuyển với  bình dầu  phụ  tháo dời  và
đổ dầu cách mặt máy 200-250mm cần kiểm tra:
- Xem xét bên ngoài máy.
-  Kiểm  tra  xem  trong  máy  có  áp lực dư  hoặc  chân  không  hay  không bằng
cách hé mở một bích trên mặt máy xem có tiếng không khí rít không.
-  Kiểm  tra  điện  áp  chọc  thủng của dầu  trong  máy  và  trong  khoang  tiếp
điểm dập lửa của bộ  ĐAT  (nếu  có)  đối với  các  máy  biến  áp từ  110  kV  trở  lên.
Các  thông số của dầu  phải  phù hợp với  phụ lục  I.Nếu  trong  máy  không  có  áp
lực dư hoặc chân không thì cần tạo áp lực dư 0,25 KG/cm
2
bằng cách sau:
- Hoặc nạp ni-tơ dưới dạng khí.
- Hoặc dùng máy nén khí bơm qua bình silicagen.
- Hoặc bơm dầu đạt tiêu chuẩn theo phụ lục I vào đáy máy.
Duytrì áp lực kế trên trong 3 giờ,nếu áp lực này tụt xuống không dưới 0,23
KG/cm
2
thì  máy  biến  áp  được  coi  là  kín.  Trườnghợp  ngượclại  phải  tìm  cách
khôi phục lại độkín của máy.
3.  Đối với  các  máy  biến  áp  được vận  chuyển  không dầu  có  phụ nạp  ni-tơ
cần kiểm tra.
- Xem xét bên ngoài máy.
- Kiểm tra áp lực trong máy phải dương theo đồng hồ áp lực của máy.
-  Kiểm  tra  áp lực  chọc  thủng của dầu  đọng tại  đáy  máy  và  trong  khoang
tiếp điểm dập lửa của bộ ĐAT.
-  Kiểm  tra  tang  góc tổn  thất  điện  môi  và  hàm lượng nước của dầu tại  đáy
máy  và  trong  khoang  tiếp điểm của bộ  ĐAT  (nếu  có) đối với  các  máy  biến  áp từ
110kV trở lên. Các thông số của dầu phải đạt các tiêu chuẩn theo phụ lục I.
Nếu trong máy không áp lực dương thì phải tiến hành các thao tác
như điều 83 mục 2 quy định.
Điều 84:
Nếu  các  máy  biến  áp mới  nhận  không được đưa  ngay  vào lắp đặt  thì  không
được  phép bảo  quản  máy  trong  trạng  thái  chuyên  chở  quá  3  tháng kể từ  ngày
đến.  Đối với  các  máy  biến  áp  được vận  chuyển  không dầu,  trong  10  ngày  đầu
tiên mỗi  ngày  kiểm  tra  áp lực  ni-tơ một lần,  sau  đó cứ một  tháng  kiểm  tra một
lần.  Khi  thời  gian bảo  quản  quá  3  tháng cần lắp  bình dầu  phụ  và bơm dầu  đạt
tiêu  chuẩn của  phụ lục  I  vào  đầy  máy. Dầu bơm  qua  van  đáy  máy  phải  có  nhiệt
độ  không  sai  khác  quá 5 độ C  so với  nhiệt  độ  ruột  máy  và  khi bơm  không cần tạo
chân  không  trong  máy,  bình dầu  phụ của  máy  có  bình  hô hấp.  Đối với  các  máy
biến  áp  có bảo vệ dầu bằng  ni-tơ  hoặc  màng  chất dẻo  cho  phép  không  đưa  các
bảo vệ  này  vào  làm  việc  mà  chỉ  dùng một  bình  hô hấp  chứa  trên  5kg  silicagen
nếu thời gian bảo quản dưới 6 tháng.
Cứ  3  tháng một lần  phải lấy mẫu dầu  trong  các  máy  biến  áp  ở
trạng  thái bảo  quản  để  phân  tích  giản  đơn  như  các mục  1  đến  3 của
phụ lục I.
Điều 85:
Tiểu tu máy biến áp bao gồm: các hạng mục sau:
1  .  Xem  xét  bên  ngoài  và sửa  chữa  các hư hỏng nhỏ có  thể  khắc  phục được
ngay.
2. Vệ sinh vỏ máy và các sứ dầu vào.
3.Xả cặn bẩn của bình dầu  phụ,bổ  sung dầu  bình dầu  phụ,  thông rửa ống
thuỷ, kiểm tra đồng hồ mức dầu.
4. Thay silicagen trong các bình xi-phông nhiệt và bình hô hấp.
5. Kiểm tra các van và các gioăng.
6. Kiểm tra và vệ sinh hệ thống làm mát, kiểm tra, thay thế, bổ sung mỡ các
vòng bi động cơ của hệ thống làm mát.
7. Kiểm tra các bảo vệ và chống sét.
8. Kiểm tra màng phòng nổ của máy và của bộ ĐAT (nếu có).
9.  Kiểm tra các sứ đầu  vào. Đối với các sứ đầu vào có dầu  kiểu hở  thì thay
dầu trong các vách ngăn dầu, thay silicagen bình hô hấp (nếu có).
10.Lấy mẫu dầu máy để thí nghiệm theo các mục 1 đến 6; 10 của phụ lục I.
11  .Kiểm  tra  các  trang bị bảo vệ dầu  chống  lão  hoá  và  ô-xy  hoá  (màng
chất dẻo...).
12.Thí nghiệm máy biến áp.
13.Đối với  các  máy  biến  áp  có bộ  ĐAT  thì sửa  chữa  ngoài  định kỳ bộ  này
theo hướng dẫn của nhà chế tạo.
Điều 86:
Đại tu định kỳ máy biến áp bao gồm các hạng mục sau:
1 . Rút vỏ máy hoặc rút ruột máy ra khỏi vỏ.
2.  Kiểm  tra  và sửa  chữa  ruột  máy  và  gông từ,kể cả  các bộ  điều  áp  không
tải và có tải.
3. Sửa chữa vỏ máy, bình dầu phụ, ống phòng nổ, các dàn ống làm mát, các
van, sứ đầu vào.
4. Sửa chữa các thiết bị làm mát, bình lọc xi-phông nhiệt, bình hút ẩm.
5. Vệ sinh và sơn lại vỏ máy (nếu cần).
6. Kiểm tra các đồng hồ đo lường, trang bị báo hiệu, rơ le bảo vệ các mạch
nhị thứ.
7.Sửa  chữa  các  thiết bị nối với  máy  biến  áp  như  cáp  điện lực,  máy cắt
điện, dao cách ly, máy biến dòng điện, máy biến áp đo lường, chống sét...
8. Lọc lại dầu hoặc thay dầu mới.
9. Sấy lại ruột máy (nếu cần).
1 0.Lắp lại máy biến áp.
11 . Thí nghiệm máy biến áp.
Nội dung cụ thể các hạng mục 1 và 2 xem trong phụ lục số 3.
Nội dung cụ thể các hạng mục 3 và 4 xem trong phụ lục số 5.
Nội dung cụ thể các hạng mục 8 xem trong phụ lục số 1
Nội dung cụ thể các hạng mục 9 xem trong phụ lục số 6
Nội dung cụ thể các hạng mục 10 xem trong phụ lục số 7
Nội dung cụ thể các hạng mục 11 xem trong phụ lục số 2
Điều 87:
Khi đưa  máy  vào đại  tu  định kỳ  phải lập  biên bản  bàn  giao  giữa đơn vị sửa
chữa và đơn vị quản lý vận hành.
Máy  biến  áp  được  bàn  giao  cho  bên sửa  chữa  với  đầy  đủ  tài  liệu
kỹ  thuật,  lý lịch vận  hành,nội  dung  và  biên bản của  các lần sửa  chữa
trước đây.
Điều 88:
Máy  biến  áp  sau  đại  tu  được  bàn  giao  cho  bên vận  hành bằng  biên bản  bàn
giao kèm theo nhật ký sưả chữa và các biên bản thử nghiệm.
Điều 89:
Trước khi đại tu máy biến áp phải tiến hành thí nghiệm toàn máy để so sánh
với số liệu sau đại tu.
Điều 90:
Đại tu phục hồi máy  biến áp bao gồm các hạng mục như khi đại tu  định kỳ
nhưng  tuỳ  theo  tình  trạng  ruột  máy  mà  tiến  hành sửa  chữa cục bộ,  thay  thế  hoặc
quấn lại một  phần  hay  toàn bộ  cuộn  dây,  phục hồi  tính  chất  cách  điện của  các  lá
tôn, thay thế các chi tiết cách điện của ruột máy...
Việc sấy máy biến áp sau đại tu phục hồi là bắt buộc bất kể số liệu
thí nghiệm kiểm tra ruột máy ra sao.
Nội dung cụ thể việc sửa chữa ruột máy xem phụ lục số 4.
Các phụ lục kèm theo:
1  .  Tiêu  chuẩn  thí  nghiệm dầu  cách điện  dùng  cho  các  máy  biến  áp. Lọc dầu
biến áp. Bơm dầu biến áp vào máy không hút chân không và có hút chân không.
2.  Thời hạn,  khối lượng  và  tiêu  chuẩn  thí  nghiệm  máy  biến  áp.  Phương  pháp
thử.
3.  Kiểm  tra  và sửa  chữa  nhỏ  ruột  máy,  rút  ruột  hoặc  rút nắp  chuông  máy
biến áp.
4.Sửa chữa phục hồi  ruột  máy  biến  áp  có thay thế một phần  hoặc hoàn  toàn
cuộn dây.
5. Sửa chữa các phụ kiện máy biến áp
6. Sấy và phụ sấy máy biến áp.
7.Lắp  ráp  máy  biến  áp mới  hoặc  sau  đại  tu  đối với  máy  biến  áp  có  điện  áp
110kV trở lên.
8. Một số tiêu chuẩn công nghệ trong sửa chữa máy biến áp.
9. Sửa chữa và hiệu chỉnh các bộ điều chỉnh điện áp.
Phụ lục 1
Phần 1 – Tiêu chuẩn dầu biến áp
Phần 2 – Phân tích mẫu dầu trong MBA lực
Phần 3 – Lọc dầu biến áp
Phần 4 – Bơm dầu vào MBA có chân không và không có chân không
Phần 1. TIÊU CHUẨN DẦU BIẾN ÁP

Ghi chú:
1.Mục 11  chỉ  tiến  hành đối với  các  máy  biến  áp  có bảo vệ bằng  màng  chất
dẻo  hoặc  ni-tơ.  Trong  trường hợp  có  các  thiết bị  khử  khí dầu đạt tới  chân  không
trên 759mm Hg trong khoang chân không thì không cần kiểm tra hạng mục này.
2.Mục  10  chỉ  kiểm  tra  đối với  các  máy  biến  áp  có bảo vệ bằng  màng  chất
dẻo.  Đối với  các  máy  biến  áp  không  có bảo vệ bằng  màng  chất dẻo,cấp  điện  áp
từ  100-150KV cũng  nên  kiểm  tra  hàm lượng nước.  Đối với  các  máy  loại  này
hàm lượng nước cho phép không quá 0,002% (20g/tấn).
3. Mục 2 chỉ bắt buộc đối với máy biến áp từ 110KV trở lên.
4. Việc kiểm tra giản đơn dầu cách điện chỉ bao gồm các mục 1,3,4,5 và 6.
5. Đối với dầu biến áp Tây Âu khi đưa vào vận hành:
tgd góc tổn thất điện môi ở90 độ C.
- Điện á p £110KV: tgd £1,5%
- Điện á p > 110 KV: tgd £ 1%.

Phần 2. PHÂN TÍCH MẪU DẦU TRONG MÁY BIẾN ÁP LỰC
I. Các giới hạn cho phép của chất lượng dầu và một số lời khuyên:
1. Các khí hoà tan trong dầu:
Cần lưu  ý rằng  các mức độ  khí  liệt  kê dới  đây đối với dầu  trong  máy  biến
áp lực  chỉ  là  các  giá  trị  mong  muốn.Sự  chênh lệch lớn hơn  các  giá  trị  này cũng
có  thể  thu  được.  Đối với  các  trường hợp  này tốc  độ  thay  đổi  các  khí  theo  thời
gian là một tiêu chuẩn quan trọng để xác định lượng của dầu.
Các giá trị an toàn của các khí hoà tan như là một hàm số của thời gian
vận hành (hàm lượng khí tính bằng ppm ở 20 độ  C).


H2
và C2H2
có  thể  thu  được với mức  độ lớn  ở dầu bộ  điều  chỉnh  điện  áp
dưới tải của  máy  biến  áp.  Khi  tiến hành phân  tích  các  khí  hoà tan trong dầu,nếu
hàm lượng  các  khí H2
và C2H2
vượt  quá  các  giá  trị  cho  phép cần lưu  ý  đến  hiện
tượng  rò dầu từ  buồng  chứa  tiếp  điểm dập hồ  quang của bộ  điều  chỉnh  điện  áp
dưới tải đến thùng dầu chính.
Bảng dưới đây đưa ra một số hướng dẫn cho trường hợp này.


Tốc độ thay đổi các khí hoà tan sau 24 giờ. 

Bảng dưới đây có tácdụng như một công cụ để chuẩn bị đoán và đưa ra 
khí chủ yếu để phân loại sự cố.

Ghi chú: 
- X: Khí chính 
- L: Khí sinh ra đồng thời với số lượng lớn 
- S: Khí sinh ra đồng thời với số lượng nhỏ. 
2. Hàm lượng ẩm: 
Giá trị có thể chấp nhận được mức độ ẩm của dầu máy biến áp được chỉ ra 
ở  đồ  thị  kèm  theo  trọng lượng  hàm lượng ẩm của  giấy  cách điện  trong  máy  biến 
áp.
3. Trị số axít và sức căng bề mặt. 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét