QUI TRÌNH VẬN HÀNH VÀ SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP(chương 4)
Chương IV: XỬ LÝ MÁY BIẾN ÁP VẬN HÀNH KHÔNG BÌNH THƯỜNG VÀ SỰ CỐ
Trong khi vận hành nếu thấy máy biến áp có những hiện tượng khác thường
như chảy dầu, thiếu dầu, máy bị nóng quá mức, có tiếng kêu khác thường, phát
nóng cục bộ ở đầu cốt sứ,bộ ĐAT hoạt động không bình thường... phải tìm mọi
biện pháp để giải quyết, đồng thời báo cáo với cấp trên và ghi những hiện tượng,
nguyên nhân đó vào sổ nhật ký vận hành.
Điều 56:
Máy biến áp phải được đưa ra khỏi vận hành trong các trường hợp sau đây:
1 . Có tiếng kêu mạnh không đều và tiếng phóng diện bên cạnh máy.
2.Sự phát nóng của máy tăng lên bất thường và liêu tục trong điều kiện làm
mát bình thường, phụ tải định mức.
3. Dầu tràn ra ngoài máy qua bình dầu phụ, vỡ kính phòng nổ hoặc dầu phun
ra qua van an toàn.
4. Mức dầu hạ thấp dưới mức quy định và còn tiếp tục hạ thấp.
5. Mầu sắc của dầu thay đổi đột ngột.
6. Các sứ bị rạn,vỡ,bị phóng điện bề mặt, áp lực dầu của các sứ kiểu kín
không nằm trong quy định của nhà chế tạo. Đầu cốt bị nóng đỏ.
7. Khi kết quả phân tích dầu cho thấy dầu không đạt các tiêu chuẩn của phụ
lục1, hoặc khi độ chớp cháy giảm quá 5 độ C so với lần thí nghiệm trước.
Điều 57:
Khi máy biến áp quá tải cao hơn định mức quy định, nhân viên trực ca phải
tìm biện pháp điều chỉnh và giảm bớt phụ tải của máy.
Điều 58:
Khi nhiệt độ dầu trong máy biến áp tăng lên quá mức giới hạn, nhân viên
trực ca phải tìm nguyên nhân và biện pháp để giảm bớt nhiệt độ bằng cách:
1 . Kiểm tra phụ tải của máy biến áp và nhiệt độ môi trường làm mát.
2. Kiểm tra thiết bị làm mát, tình hình thông gió của buồng đặt máy.
Nếu nhiệt độ của máy biến áp lên cao do thiết bị làm mát bị hỏng mà có
điều kiện cắt máy để sửa chữa thì nên cắt máy để sửa chữa, khi điều kiện vận
hành không cho phép cắt máy hoặc khi không cần cắt máy vẫn có thể sửa chữa
được thì chỉ cần ngừng riêng thiết bị làm mát, đồng thời nhân viên trực ca phải
điều chỉnh giảm bớt phụ tải cho phù hợp với công suất của máy biến áp trong
điều kiện vận hành không có thiết bị làm mát.
Điều 59:
Nếu mức dầu hạ thấp mức quy định thì phải bổ sung dầu. Trước khi bổ
sung dầu phải sửa chữa những chỗ rò,bị chảy dầu.
Nếu vì nhiệt độ tăng cao mà mức dầu trong máy biến áp lên cao quá vạch
quy định thì phải tháo bớt dầu khỏi máy.
Nếu mức dầu trong các sứ có dầu hạ thấp gần hết ống thuỷ chỉ mức dầu
hoặc khi áp lực dầu trong các sứ kiểu kín thấp dưới mức quy định thì phải nạp bổ
sung dầu và tìm nguyên nhân để khắc phục. Khi bổ sung dầu phải theo đúng quy
định của nhà chế tạo để tránh lọt khí vào sứ.
Điều 60:
Khi rơle hơi tác động báo tín hiệu phải xem xét bên ngoài máy bi ến áp,lấy
mẫu khí trong rơle để phân tích và kiểm tra tính chất cháy của khí.
Nếu khí cháy được hoặc trong khí có chứa những sản phẩm do phân huỷ
chất cách điện phải nhanh chóng cắt máy biến áp. Trường hợp chất khí không
sắc, không mùi, không đốt cháy được thì vẫn có thể để máy biến áp tiếp tục vận
hành.
Rơle hơi có thể phát tín hiệu nhầm do các lý do sau:
1 .Lọt khí vào máy biến áp do có sơ hở trong hệ thống làm mát cưỡng bức
hoặc không khí vào theo dầu khi lọc dầu hoặc bơm dầu mới chưa khử khí.
2. Thiếu dầu, mức dầu hạ quá thấp.
3. Xung động do ngắn mạch trên lưới làm dầu bị đẩy ngược lên bình dầu
phụ.
4. Chênh lệch áp suất trong bình dầu phụ và ống phòng nổ.
5. Sự cố, chạm chập mạch nhị thứ.
Điều 61 :
Khi kiểm tra chất khí có thể cháy được hay không phải hết sức thận trọng,
không được đưa lửa quá gần van xả khí của rơle hơi mà phải để cách 5-6 cm và
hơi chếch sang một phía.
Điều 62:
Nếu nguyên nhân rơle hơi tác động không phải là do không khí lọt vào
máy biến áp thì phải kiểm tra nhiệt độ chớp cháy của dầu và nếu nhiệt độ chớp
cháy giảm quá 5
0
C so với lần thí nghiệm trước thì phải tách máy ra khỏi vận
hành.
Nếu nguyên nhân rơle hơi tác động là do không khí ở trong dầu thoát ra thì
phải xả hết không khí trong rơle hơi. Trường hợp xả nhiều lần không hết không
khí thì cho phép chuyển rơle hơi sang vị trí báo tín hiệu và báo cáo ngay với cấp
trên.
Điều 63:
Căn cứ theo mầu sắc và tính chất của khí tích luỹ trong rơle hơi có thể sơ
bộ xác định tính chất sự cố như sau:
Điều 64:
Khi máy biến áp bị cắt do rơle hơi hoặc rơle so lệch thì chỉ được đưa máy
trở lại vận hành sau khi đã xem xét, thử nghiệm, phân tích mẫu khí và khắc phục
những điểm bất thường.
Nếu việc cắt máy biến áp dẫn đến việc ngừng cấp điện cho những
hộ sử dụng điện quan trọng, cho phép dùng máy cắt đóng lại một lần
nếu máy biến áp đó có cả bảo vệ so lệch và bảo vệ hơi nhưng chỉ bị cắt
bởi một trong hai bảo vệ đó và không thấy rõ dấu hiệu bên ngoài
chứng tỏ máy hư hỏng.
Trường hợp máy biến áp bị cắt do các bảo vệ khác ngoài so lệch
và rơle hơi có thể đóng máy biến áp trởlại làm việc không cần kiểm
tra.
Điều 65:
Khi máy biến áp bị cháy cần phải cắt hoàn toàn điện áp khỏi máy, báo công
an cứu hoả, cấp trên và tiến hành dập lửa theo quytrình phòng chống cháy nổ.
Phải tiến hành xả dầu ở van xả dầu sự cố tại đáy máy nếu điều
kiện cho phép.
Đặc biệt chú ý không để lửa lan đến các máy biến áp và các thiết
bị điện khác ở xung quanh.
Chương V :QUẢN LÝ DẦU MÁY BIẾN ÁP
Đối với những máy biến áp mới đưa vào vận hành cần lấy mẫu thử nghiệm
theo các thời hạn sau:
- Với máy biến áp 110 kV, sau khi đóng điện 10 ngày, 1 tháng, tiếp theo như
điều 68 của quy trình này.
-Với máy biến áp từ 220 kV trở lên, sau khi đóng điện 10 ngày, 1 tháng,
3 tháng, tiếp theo như điều 68 của quy trình này.
Mẫu dầu được thử theo các mục từ 1 đến 6 và mục 10 của phụ lục I. Riêng
với các máy biến áp có bảo vệ dầu bằng nitơ hoặc màng chất dẻo cần thử bổ
sung thêm mục 11 .
Điều 67:
Trong giai đoạn đầu mới vận hành cần tiến hành phân tích sắc tố khí hoà
tan trong dầu trong thời hạn sau:
- Sau 6 tháng với máy biến áp 110 kV công suất dưới 60.000 kVA.
- Sau 3 ngày, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng với máy biến áp 110 kV công suất từ
60.000 kVA trở lên và tất cả các máy biến áp 220-500 kV.
Điều 68:
Dầu biến áp trong vận hành phải được lấy từ mẫu thử mỗi năm một lần.
Ngoài ra sau các lần đại tu, sau khi phát hiện tình trạng bất thường
cần phải thử mẫu dầu đột xuất.
Nếu xuất hiện khí cháy được trong rơle hơi thì cần xác định lại
điểm chớp cháy của dầu.
Dầu phải đạt các tiêu chuẩn theo phụ lục I.
Điều 69:
Việc lọc dầu và lấy mẫu dầu có thể tiến hành khi máy biến áp đã được cắt
điện hoặc khi máy đang vận hành. Những việc đó do nhân viên trực ca làm hoặc
do những nhân viên khác làm (tối thiểu là hai người) dưới sự giám sát của nhân
viên trực ca.Với điều kiện là lúc đó trong lưới với điểm trung tính cách điện
không có chạm đất.
Khi lọc dầu máy biến áp đang làm việc thì rơle hơi chỉ để ở vị trí
“phát tín hiệu”, còn bảo vệ rơle khác thì vấn phải để ở vị trí sẵn sàng
cắt máy biến áp đó.
Điều 70:
Để kéo dài thời hạn sử dụng dầu máy biến áp cần chú ý thay thế
hạ thấp phụ trong các bình xi phông nhiệt và hạt hút ẩm trong bình thở
của máy.
Lần thay hạ thấp phụ đầu tiên tiến hành một năm sau khi đưa máy
vào vận hành và sau đó cần phải thay khi trị số a xít trong dầu đạt tới
0,1mg KOH trên gram dầu hoặc khi hàm lượng a xít hoà tan trong
nước lớn hơn 0,014mg KOH.
Hạt hút ẩm trong bình thở máy biến áp cần phải thay khi màu chỉ
thị đổi từ xanh sang hồng nhưng ít nhất cũng phải thay 6 tháng một
lần.
Độ ẩm của hạt hấp phụ trước khi nạp vào bình lọc không vượt quá
5%.
Điều 71 :
Trường hợp cần bổ sung dầu biến áp mà không rõ gốc dầu trong máy hoặc
không có loại dầu cùng gốc thì phải tuân theo các nguyên tắc sau:
1 . Đối với những máy biến áp có công suất dưới 1000 kVA, điện áp từ 10kV
trở xuống được phép bổ sung bằng dầu gốc bất kỳ,với điều kiện dầu bổ sung
phải đạt mọi tiêu chuẩn thí nghiệm theo phụ lục I và tổng lượng dầu bổ sung
trong suốt quá trình vận hành không vượt quá 10% lượng dầu trong máy.
2. Đối với những máy biến áp có công suất 6.300 kVA và cấp điện áp từ 35kV
trở xuống được phép bổ sung dầu khác gốc với điều kiện:
a. Dầu bổ sung đạt mọi tiêu chuẩn thí nghiệm theo phụlục I.
b.Hỗn hợp dầu bổ sung và dầu trong máy được thử kháng ô xy hoá và đạt
tiêu chuẩn theo phụ lục I.Tỷlệ pha trộn khi thử kháng ôxy hoá bằng tỷ lệ bổ
sung dầu trong thực tế.
c.Hỗn hợp dầu bổ sung và dầu trong máy phải có trị số tgd thấp hơn và độ
ổn định kháng ôxy hoá tốt hơn so với các trị sốt ương ứng của một loại dầu
thành phần xấu nhất khi chưa pha trộn.
3. Đối với những máy biến áp có cấp điện áp 110kV trởlên việc trộn dầu
biến áp do cấp trên quyết định.
Chương VI :SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP
Điều 72:Tuỳ theo khối lượng công việc thực hiện, công tác sửa chữa được chia ra
các cấp nhưsau:
- Tiểu tu: Tusửa chữa máy biến áp cócắt điện nhưng không tháo dầu và
không mở ruột máy.
- Đại tu định kỳ: Rútbỏ máy hoặc rút ruột máy ra khỏi vỏ. Kiểm tra sửa
chữa toàn diện máy. Có thể bao gồm cả sấy máy.
- Đại tu phục hồi: Tuỳ theo tình trạng cuộn dây có thể thay thế hoàn toàn
quấn lại một phần hay sửa chữacụcbộ.Cũng có thể bao gồm cả sửa chữa lõi
tôn, phục hồi cách điện các lá tôn.
Điều 73:
Định kỳ sửa chữa đối với các máy biến áp như sau:
1 . Tiểu tu máy biến áp tiến hành theo các định kỳ sau:
- Đối với các máy biến áp có độ ĐAT: mỗi năm một lần.
- Đối với các máy biến áp chính của nhà máy điện và trạm biến áp, các
máy biến áp tự dùng ít nhất một lần trong một năm.
- Đối với các máy biến áp đặt ở nơi có nhiều bụi bẩn thì thuỳ theo điều kiện
cụ thể mà có quy định riêng.
- Đối với tất cả các máy biến áp khác ít nhất một lần trong 2 năm.
Việc tiểu tu các bộ ĐAT thực hiện sau một số lần chuyển mạch theo quy
trình của nhà chế tạo. Tiểu tu các hệ thống làm mát dạng QG, KD, ND phải tiến
hành hàng năm. Đồng thời với tiểu tu máy biến áp phải tiến hành tiểu tu các sứ
đầu vào.
2. Đại tu định kỳ máy biến áp tiến hành:
Đối với tất cả các máy biến áp: Tuỳ thuộc vàokết quả thí nghiệm và tình
trạng máy.
3 . Đại tu phục hồi tiến hành sau khi các máy biến áp bị sự cố cuộn dây
hoặc lõi tôn hoặc khi có nhu cầu cải tạo máy biến áp.
Điều 74:
Đối với các máy biến áp lắp đặt mới được vận chuyển không dầu bảo quản
bằng ni-tơ cần có biện pháp đẩy hết ni-tơ ra khỏi máy trước khi cho người chui
vào. Việc đẩy ni-tơ tiến hành theo các cách sau:
1 .Bơm dầu biến áp đủ tiêu chuẩn theo phụ lục I vào máy qua van đáy cho
tới khi đẩy hết nitơ ra ngoài.
2. Đối với các máy biến áp có vỏ chịu được chân không tuyệt đối thì dùng
bơm chân không rút chân không trong máy đến 660mm Hg rồi xả khí qua bình
silicagen vào máy. Lượng silicagen trong bình không được ít hơn 5kg.
3. Thông thổi ruột máy bằng không khí khô và sạch hoặc mở các cửa người
chui để thông gió tự nhiên. Trong trường hợp này cần chấp hành nghiêm chỉnh
các yêu cầu về mở ruột máy để tránh nhiễm ẩm. Chỉ cho phép bắt dầu làm việc
khi hàm lượng ô-xy trong máy vượt quá 18%.
Điều 75:
Các công việc dễ gây cháy như hàn hồ quang... phải tiến hành cách ruột
máy ít nhất là 5m.
Điều 76:
Phải có phương án phòng chống cháy nổ tại khu vực sửa chữa. Phương án
này phải phù hợp với quy trình phòng chữa cháy cho các thiết bị điện.
Điều 77:
Nếu cần phải tiến hành hàn vỏ máy biến áp thì mức dầu trong máy phải cao
hơn điểm hàn ít nhất 200-250mm.
Điều 78:
Để tránh xuất hiện điện tích tĩnh điện khi bơm dầu hoặc bơm ra khỏi máy
cần tiếp địa các cuộn dây và vỏ máy biến áp.
Điều 79:
Trước khi tiến hành công tác sửa chữa cần phải tiến hành công tác chuẩn bị
bao gồm:
1 . Chuẩn bị mặt bằng sửa chữa đủ để bố trí các thiết bị thi công, các dung
tích chứa dầu và khi cần thiết phải có mặt bằng để rút ruột hoặc rút vỏ máy.
2. Xác định khả năng và phương pháp xử lý lượng dầu cần thiết.
3. Chuẩn bị dụng cụ, đồ nghề, nguyên vật liệu, thiết bị, thiết bị công nghệ,
kích kéo, cầu trục...
4. Xác định khối lượng và trình tự thực hiện các thao tác sửa chữa, thí
nghiệm, hiệu chỉnh cần tiến hành.
5.Lập tiến độ cho các bước công nghệ, xác định số lượng, thành phần, tay
nghề cần thiết của đội sửa chữa.
6. Chuẩn bị nguồn điện, nguồn nước thi công căn cứ vào nhu cầu của các
thiết bị công nghệ và nhu cầu sấy máy biến áp.
7. Chuẩn bị các tài liệu kỹ thuật, các mẫu biên bản sửa chữa và biên bản
thí nghiệm cần thiết đểt hực hiện công việc cũng như để bàn giao sau này.
8. Chuẩn bị phương án phòng chống cháy nổ, phổ biến phương án này và
các quy trình đại tu, quy trình kỹ thuật an toàn cho toàn thể đội sửa chữa.
Điều 80:
Tuỳ thuộc kích thước vỏ và trọnglượng máy biến áp có thể được chuyên
chở theo các cách sau:
1 . Được lắp đầy đủ bình dầu phụ, cánh tản nhiệt, đổ đầy dầu đến mức vận
hành.
Cách này chủ yếu dùng cho các máy biến áp đến 35kV, công suất dưới
10.000 kVA, làm mát bằng tuần hoàn dầu tự nhiên.
2. Tháo dời bình dầu phụ, cách làm mát, được đổ dầu đến cách mặt máy
200- 250mm.
Cách chuyên chở này áp dụng cho các máy biến áp công suất từ
16.000 kVA trở lên hoặc điện áp 110 kV trở lên.
3. Chuyên chở không dầu, có thiết bị phụ nạp ni tơ trên đường. Thiết bị này
bảo đảm duy trì áp lực ni-tơ 0,4 KG/cm
2
trong vòng 30 ngày.
Cách chuyên chở này áp dụng cho các máy có công suất lớn.Nếu
thời gian chuyên chở lớn hơn 30 ngày thì phải thay thế các bình ni-tơ.
Điều 81:
Đối với các máy biến áp mới và lắp ngay sau khi máy được chuyên chở đến
vị trí lắp đặt cần kiểm tra.
1 . Tình trạng chằng buộc máy trên phương tiện vận chuyển. Các vệt sơn
đánh dấu trên vỏ máy và trên sàn xe phải trùng nhau.
2.Nếu máy được chuyên chở không dầu có phụ nạp ni-tơ thì áp lực trong
máy phải trong khoảng 0,4KG/cm
2
.
3. Tình trạng vỏ máy, các kẹp chì niêm phong, các gioăng, các van trên
máy,tất cả phải còn nguyên vẹn, trên vỏ máy và trên sàn xe không được có vết
chảy dầu.
4. Tình trạng của các sứ đầu vào và các phụ kiện tháo rời khác của máy.
Các chi tiết này không được có các hư hại cơ học. Khi phát hiện tình trạng bất
thường cần lập biên bản với đơn vị vận chuyển máy biến áp.
5. Kiểm tra chốt định vị không suy chuyển.
Điều 82:
Việc cẩu hạ máy biến áp được thực hiện bằng cần trục có sức nặng phù
hợp.Vị trí móc cáp phải đúng nơi quy định của nhà chế tạo. Tuyệt đối tránh để
cáp cẩu tỳ vào sứ cách điện của máy.
Đối với các máy biến áp cỡ lớn việc hạ máy từ phương tiện vận chuyển
xuống được thực hiện bằng cách dùng tời hoặc xe kéo máy trượt trên các thanh
ray đặt dưới đáy máy trên các lớp tà-vẹt. Các thanh ray này phải đặt cạnh sống
chịu lực của đáy máy và có số lượng như sau:
- Ít nhất là 2 thành với trọng lượng máy dưới 60 tấn
- Ít nhất là 3 thanh với trọng lượng máy dưới 120 tấn
- Ít nhất là 4 thanh với trọng lượng máy dưới 220 tấn
- Ít nhất là 6 thanh với trọng lượng máy vượt quá 220 tấn.
Việc nâng máy biến áp cỡ lớn được thực hiện bằng các kích thuỷ
lực. Kích phải đặt đúng vị trí do nhà chếtạo quy định. Khi nâng dần
đầu máy phải bảo đảm độ nghiêng của máy biến áp không quá 3%.
Nếu máy đã được lắp bánh xe có thể kéo máy di chuyển bằng tời hoặc
palăng. Tốc độ kéo không được quá 8m/phút trên những đoạn đường bằng phẳng
có độ uốn không quá 2mm trên 1 mét chiều dài. Cho phép kéo cả hai chiều dọc
và ngang đối với những máy biến áp có 4 bánh xe và cho phép kéo theo chiều
ngang với những máy có trên 4 bánh xe trên những đoạn đường dốc không quá
2%.
Điều 83:
Không quá 10 ngày kể từ khi nhận được máy biến áp cần phải đánh giá sơ
bộ tình trạng cách điện của máy nhưsau:
1 . Đối với các máy biến áp cỡ nhỏ được chuyên chở với bình dầu phụ lắp
sẵn và đổ đầy dầu kiểm tra:
- Mức dầu trong bình dầu phụ.
- Điện áp chọc thủng của dầu. Các thông số của dầu phải phù hợp với phụ
lụcI.
2. Đối với các máy biến áp được vận chuyển với bình dầu phụ tháo dời và
đổ dầu cách mặt máy 200-250mm cần kiểm tra:
- Xem xét bên ngoài máy.
- Kiểm tra xem trong máy có áp lực dư hoặc chân không hay không bằng
cách hé mở một bích trên mặt máy xem có tiếng không khí rít không.
- Kiểm tra điện áp chọc thủng của dầu trong máy và trong khoang tiếp
điểm dập lửa của bộ ĐAT (nếu có) đối với các máy biến áp từ 110 kV trở lên.
Các thông số của dầu phải phù hợp với phụ lục I.Nếu trong máy không có áp
lực dư hoặc chân không thì cần tạo áp lực dư 0,25 KG/cm
2
bằng cách sau:
- Hoặc nạp ni-tơ dưới dạng khí.
- Hoặc dùng máy nén khí bơm qua bình silicagen.
- Hoặc bơm dầu đạt tiêu chuẩn theo phụ lục I vào đáy máy.
Duytrì áp lực kế trên trong 3 giờ,nếu áp lực này tụt xuống không dưới 0,23
KG/cm
2
thì máy biến áp được coi là kín. Trườnghợp ngượclại phải tìm cách
khôi phục lại độkín của máy.
3. Đối với các máy biến áp được vận chuyển không dầu có phụ nạp ni-tơ
cần kiểm tra.
- Xem xét bên ngoài máy.
- Kiểm tra áp lực trong máy phải dương theo đồng hồ áp lực của máy.
- Kiểm tra áp lực chọc thủng của dầu đọng tại đáy máy và trong khoang
tiếp điểm dập lửa của bộ ĐAT.
- Kiểm tra tang góc tổn thất điện môi và hàm lượng nước của dầu tại đáy
máy và trong khoang tiếp điểm của bộ ĐAT (nếu có) đối với các máy biến áp từ
110kV trở lên. Các thông số của dầu phải đạt các tiêu chuẩn theo phụ lục I.
Nếu trong máy không áp lực dương thì phải tiến hành các thao tác
như điều 83 mục 2 quy định.
Điều 84:
Nếu các máy biến áp mới nhận không được đưa ngay vào lắp đặt thì không
được phép bảo quản máy trong trạng thái chuyên chở quá 3 tháng kể từ ngày
đến. Đối với các máy biến áp được vận chuyển không dầu, trong 10 ngày đầu
tiên mỗi ngày kiểm tra áp lực ni-tơ một lần, sau đó cứ một tháng kiểm tra một
lần. Khi thời gian bảo quản quá 3 tháng cần lắp bình dầu phụ và bơm dầu đạt
tiêu chuẩn của phụ lục I vào đầy máy. Dầu bơm qua van đáy máy phải có nhiệt
độ không sai khác quá 5 độ C so với nhiệt độ ruột máy và khi bơm không cần tạo
chân không trong máy, bình dầu phụ của máy có bình hô hấp. Đối với các máy
biến áp có bảo vệ dầu bằng ni-tơ hoặc màng chất dẻo cho phép không đưa các
bảo vệ này vào làm việc mà chỉ dùng một bình hô hấp chứa trên 5kg silicagen
nếu thời gian bảo quản dưới 6 tháng.
Cứ 3 tháng một lần phải lấy mẫu dầu trong các máy biến áp ở
trạng thái bảo quản để phân tích giản đơn như các mục 1 đến 3 của
phụ lục I.
Điều 85:
Tiểu tu máy biến áp bao gồm: các hạng mục sau:
1 . Xem xét bên ngoài và sửa chữa các hư hỏng nhỏ có thể khắc phục được
ngay.
2. Vệ sinh vỏ máy và các sứ dầu vào.
3.Xả cặn bẩn của bình dầu phụ,bổ sung dầu bình dầu phụ, thông rửa ống
thuỷ, kiểm tra đồng hồ mức dầu.
4. Thay silicagen trong các bình xi-phông nhiệt và bình hô hấp.
5. Kiểm tra các van và các gioăng.
6. Kiểm tra và vệ sinh hệ thống làm mát, kiểm tra, thay thế, bổ sung mỡ các
vòng bi động cơ của hệ thống làm mát.
7. Kiểm tra các bảo vệ và chống sét.
8. Kiểm tra màng phòng nổ của máy và của bộ ĐAT (nếu có).
9. Kiểm tra các sứ đầu vào. Đối với các sứ đầu vào có dầu kiểu hở thì thay
dầu trong các vách ngăn dầu, thay silicagen bình hô hấp (nếu có).
10.Lấy mẫu dầu máy để thí nghiệm theo các mục 1 đến 6; 10 của phụ lục I.
11 .Kiểm tra các trang bị bảo vệ dầu chống lão hoá và ô-xy hoá (màng
chất dẻo...).
12.Thí nghiệm máy biến áp.
13.Đối với các máy biến áp có bộ ĐAT thì sửa chữa ngoài định kỳ bộ này
theo hướng dẫn của nhà chế tạo.
Điều 86:
Đại tu định kỳ máy biến áp bao gồm các hạng mục sau:
1 . Rút vỏ máy hoặc rút ruột máy ra khỏi vỏ.
2. Kiểm tra và sửa chữa ruột máy và gông từ,kể cả các bộ điều áp không
tải và có tải.
3. Sửa chữa vỏ máy, bình dầu phụ, ống phòng nổ, các dàn ống làm mát, các
van, sứ đầu vào.
4. Sửa chữa các thiết bị làm mát, bình lọc xi-phông nhiệt, bình hút ẩm.
5. Vệ sinh và sơn lại vỏ máy (nếu cần).
6. Kiểm tra các đồng hồ đo lường, trang bị báo hiệu, rơ le bảo vệ các mạch
nhị thứ.
7.Sửa chữa các thiết bị nối với máy biến áp như cáp điện lực, máy cắt
điện, dao cách ly, máy biến dòng điện, máy biến áp đo lường, chống sét...
8. Lọc lại dầu hoặc thay dầu mới.
9. Sấy lại ruột máy (nếu cần).
1 0.Lắp lại máy biến áp.
11 . Thí nghiệm máy biến áp.
Nội dung cụ thể các hạng mục 1 và 2 xem trong phụ lục số 3.
Nội dung cụ thể các hạng mục 3 và 4 xem trong phụ lục số 5.
Nội dung cụ thể các hạng mục 8 xem trong phụ lục số 1
Nội dung cụ thể các hạng mục 9 xem trong phụ lục số 6
Nội dung cụ thể các hạng mục 10 xem trong phụ lục số 7
Nội dung cụ thể các hạng mục 11 xem trong phụ lục số 2
Điều 87:
Khi đưa máy vào đại tu định kỳ phải lập biên bản bàn giao giữa đơn vị sửa
chữa và đơn vị quản lý vận hành.
Máy biến áp được bàn giao cho bên sửa chữa với đầy đủ tài liệu
kỹ thuật, lý lịch vận hành,nội dung và biên bản của các lần sửa chữa
trước đây.
Điều 88:
Máy biến áp sau đại tu được bàn giao cho bên vận hành bằng biên bản bàn
giao kèm theo nhật ký sưả chữa và các biên bản thử nghiệm.
Điều 89:
Trước khi đại tu máy biến áp phải tiến hành thí nghiệm toàn máy để so sánh
với số liệu sau đại tu.
Điều 90:
Đại tu phục hồi máy biến áp bao gồm các hạng mục như khi đại tu định kỳ
nhưng tuỳ theo tình trạng ruột máy mà tiến hành sửa chữa cục bộ, thay thế hoặc
quấn lại một phần hay toàn bộ cuộn dây, phục hồi tính chất cách điện của các lá
tôn, thay thế các chi tiết cách điện của ruột máy...
Việc sấy máy biến áp sau đại tu phục hồi là bắt buộc bất kể số liệu
thí nghiệm kiểm tra ruột máy ra sao.
Nội dung cụ thể việc sửa chữa ruột máy xem phụ lục số 4.
Các phụ lục kèm theo:
1 . Tiêu chuẩn thí nghiệm dầu cách điện dùng cho các máy biến áp. Lọc dầu
biến áp. Bơm dầu biến áp vào máy không hút chân không và có hút chân không.
2. Thời hạn, khối lượng và tiêu chuẩn thí nghiệm máy biến áp. Phương pháp
thử.
3. Kiểm tra và sửa chữa nhỏ ruột máy, rút ruột hoặc rút nắp chuông máy
biến áp.
4.Sửa chữa phục hồi ruột máy biến áp có thay thế một phần hoặc hoàn toàn
cuộn dây.
5. Sửa chữa các phụ kiện máy biến áp
6. Sấy và phụ sấy máy biến áp.
7.Lắp ráp máy biến áp mới hoặc sau đại tu đối với máy biến áp có điện áp
110kV trở lên.
8. Một số tiêu chuẩn công nghệ trong sửa chữa máy biến áp.
9. Sửa chữa và hiệu chỉnh các bộ điều chỉnh điện áp.
Phụ lục 1
Phần 1 – Tiêu chuẩn dầu biến áp
Phần 2 – Phân tích mẫu dầu trong MBA lực
Phần 3 – Lọc dầu biến áp
Phần 4 – Bơm dầu vào MBA có chân không và không có chân không
Phần 1. TIÊU CHUẨN DẦU BIẾN ÁP
Ghi chú:
1.Mục 11 chỉ tiến hành đối với các máy biến áp có bảo vệ bằng màng chất
dẻo hoặc ni-tơ. Trong trường hợp có các thiết bị khử khí dầu đạt tới chân không
trên 759mm Hg trong khoang chân không thì không cần kiểm tra hạng mục này.
2.Mục 10 chỉ kiểm tra đối với các máy biến áp có bảo vệ bằng màng chất
dẻo. Đối với các máy biến áp không có bảo vệ bằng màng chất dẻo,cấp điện áp
từ 100-150KV cũng nên kiểm tra hàm lượng nước. Đối với các máy loại này
hàm lượng nước cho phép không quá 0,002% (20g/tấn).
3. Mục 2 chỉ bắt buộc đối với máy biến áp từ 110KV trở lên.
4. Việc kiểm tra giản đơn dầu cách điện chỉ bao gồm các mục 1,3,4,5 và 6.
5. Đối với dầu biến áp Tây Âu khi đưa vào vận hành:
tgd góc tổn thất điện môi ở90 độ C.
- Điện á p £110KV: tgd £1,5%
- Điện á p > 110 KV: tgd £ 1%.
Phần 2. PHÂN TÍCH MẪU DẦU TRONG MÁY BIẾN ÁP LỰC
I. Các giới hạn cho phép của chất lượng dầu và một số lời khuyên:
1. Các khí hoà tan trong dầu:
Cần lưu ý rằng các mức độ khí liệt kê dới đây đối với dầu trong máy biến
áp lực chỉ là các giá trị mong muốn.Sự chênh lệch lớn hơn các giá trị này cũng
có thể thu được. Đối với các trường hợp này tốc độ thay đổi các khí theo thời
gian là một tiêu chuẩn quan trọng để xác định lượng của dầu.
Các giá trị an toàn của các khí hoà tan như là một hàm số của thời gian
vận hành (hàm lượng khí tính bằng ppm ở 20 độ C).
H2
và C2H2
có thể thu được với mức độ lớn ở dầu bộ điều chỉnh điện áp
dưới tải của máy biến áp. Khi tiến hành phân tích các khí hoà tan trong dầu,nếu
hàm lượng các khí H2
và C2H2
vượt quá các giá trị cho phép cần lưu ý đến hiện
tượng rò dầu từ buồng chứa tiếp điểm dập hồ quang của bộ điều chỉnh điện áp
dưới tải đến thùng dầu chính.
Bảng dưới đây đưa ra một số hướng dẫn cho trường hợp này.
Tốc độ thay đổi các khí hoà tan sau 24 giờ.
Bảng dưới đây có tácdụng như một công cụ để chuẩn bị đoán và đưa ra
khí chủ yếu để phân loại sự cố.
Ghi chú:
- X: Khí chính
- L: Khí sinh ra đồng thời với số lượng lớn
- S: Khí sinh ra đồng thời với số lượng nhỏ.
2. Hàm lượng ẩm:
Giá trị có thể chấp nhận được mức độ ẩm của dầu máy biến áp được chỉ ra
ở đồ thị kèm theo trọng lượng hàm lượng ẩm của giấy cách điện trong máy biến
áp.
3. Trị số axít và sức căng bề mặt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét