QUI TRÌNH VẬN HÀNH VÀ SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP
Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014
QUI TRÌNH
VẬN HÀNH VÀ SỬA CHỮA MÁY BIẾN ÁP
(Ban hành theo quyết định số623/ĐVN/KTNĐngày 23 tháng 5 năm 1997 của Tổng
Công ty Điện lực Việt Nam)
Chương I :NHỮNG YÊU CẦU CHUNG VỀLẮP ĐẶT MÁY BIẾN ÁP
Điều 1: Quy trình này áp dụng cho tất cả các máy biến áp lực, biến áp tự ngẫu và
cuộn điện kháng có dầu (sau đây gọi chung là máy biến áp) với mọi công suất,
đặt trong nhà hay ngoài trời ở các nhà máy điện và trạm biến áp có cấp điện áp
đến 500kV. Đây là quy trình mẫu, từng cơ sở căn cứ vào hướng dẫn của nhà chế
tạo kết hợp với quy trình này soạn thành quy trình cụ thể.
Điều 2:
Máy biến áp phải có bảo vệ rơ le và bảo vệ quá điện áp theo đúng quy trình
“Bảo vệ rơle và tự động điện” và quy trình “Bảo vệ quá điện áp”.
Điều 3:
Vỏ máy biến áp phải được nối đất theo đúng quy trình “Nối đất các thiết bị
điện”.
Điều 4:
Các cuộn dây hạ áp hoặc trung áp không sử dụng đến của máy biến áp ba
pha phải được đấu sao hoặc đấu tam giác và bảo vệ chống quá áp.
Bảo vệ cuộn hạ áp không dùng đến bố trí ở giữa các cuộn dây có cấp điện
áp cao hơn, thực hiện bằng chống sét van đấu vào đầu ra của mỗi pha.
Bảo vệ cuộn dây trung áp hoặc hạ áp không dùng đến trong các trườnghợp
khác thực hiện bằng cách nối đất điểm trung tính hoặc bằng cách dùng cái chống
sét đấu vào đầu ra của mỗi pha.
Ở các máy biến áp mà trung tính có mức cách điện thấp hơn các đầu vào,
việc bảo vệ điểm trung tính được thực hiện bằng cách nối đất trực tiếp hoặc qua
chống sét van tuỳtheo yêu cầu của lưới.
Điều 5:
Máy biến áp công suất từ 100 kVA trở lên phải có Ampemét để kiểm tra
phụ tải của máy.
Đối với những máy biến áp công suất nhỏ hơn có thể không đặt Ampemét.
Điều 6:
Máy biến áp hai cuộn dây chỉ cần đặt Ampemét ở một phía cao hơn hoặc hạ
áp, nếu là máy ba cuộn dây thì mỗi phía đều phải đặt Ampemét.
Điều 7:
Máy biến áp có trung tính nối đất trực tiếp vào dây trung tính có dòng điện
phụ tải, hoặc điểm trung tính không nối đất nhưng phụ tải ở ba pha không cân
bằng thì cả ba pha đều phải đặt ămpemét.
Trên mặt Ampemét phải có vạch chia độ đủ để đọc chỉ số khi máy biến áp
quá tải và chỉ số ứng với dòng điện định mức phải kẻ vạch đỏ.
Điều 8:
Việc đặt các loại đồng hồ đo điện khác (vôn mét, oát mét, var- mét...) tu ỳ
theo yêu cầu vận hành.
Điều 9:
Máy biến áp dầu phải có nhiệt kế để kiểm tra nhiệt độ lớp dầu trên cùng
bên trong máy.
Máy biến áp nạp xốp- tôn phải có đồng hồ áp kế- chân không để kiểm tra
áp lực trong vỏ máy và rơ le áp lực tác động khi áp lực trong vỏ máy vượt quá
giá trị quy định. Rất hạn chế dùng biến áp loại này vì dầu Xốp- tôn rất độc.
Điều 10:
Đối với máy biến áp đặt trong nhà,cửa phòng đặt máy phải làm bằng vật
liệu không cháy, cánh cửa phải mở ra phía ngoài và phải có khoá.
Điều 11:
Các lỗ thông hơi, lỗ luồn cáp ra vào buồng đặt máy biến áp... đều phải được
bảo vệ chống các loại động vật (chim, chuột, rắn...) chui vào.
Điều 12:
Trên vỏ máy biến áp đặt ngoài trời hoặc trên tường buồng đặt máy biến áp
trong nhà phải ghi rõ số hiệu của nhà máy,của trạm, tên gọi thống nhất theo quy
định của điều độ: công suất, điện áp. Ngoài cửa khu vực đặt máy biến áp phải
treo biển “Dừng lại điện cao áp, nguy hiểm chết người”. Trên vỏ máy biến áp
một pha phải có ký hiệu màu sơn của pha tương ứng.
Máy biến áp đặt ngoài trời phải sơn màu sáng bằng sơn không pha phụ gia
kim loại, chịu được tác dụng của khí quyển và tác dụng của dầu.
Điều 13:
Máy biến áp đặt trong nhà phải được bố trí thế nào để những sứ phía cao áp
quay vào phía tường đối diện với lối ra hoặc quay vào phía tường bên cạnh.
Điều 14:
Trong các buồng đặt máy biến áp khoảng cách từ vỏ máy đến tường và cửa
ra vào không được nhỏ hơn những trị số quy định trong bảng dưới đây (bảng1).
Khoảng cách được tính từ phần nhô ra nhiều nhất của máy.
Điều 15:
Khi đặt máy biến áp phải bố trí ống phòng nổ hoặc van an toàn sao cho khi
sự cố không phun vào đầu cáp, vào thanh cái, vào máy biến áp hoặc thiết bị khác
gần đó. Nếu cần phải có tường hoặc vách ngăn. Đỉnh ống phòng nổ phải được
nối với phần trên của bình dầu phụ.
Điều 16:
Phòng đặt máy biến áp phải có thông gió tự nhiên đảm bảo máy biến áp vận
hành với phụ tải định mức ở bất kỳ thời gian nào trong năm.
Nếu máy biến áp có hệ thống làm mát cưỡng bức thì hệ thống này phải
được cấp điện từ hai nguồn và phải có bộ phận báo tín hiệu sự cố hoặc đóng
nguồn dự phòng tự động.
Điều 17:
Tại nơi đặt máy biến áp có dầu phải có những trang bị phòng, chữa cháy
theo đúng quy trình “Phòng, chữa cháy cho các thiết bị điện”.
Điều 18:
Buồng đặt máy biến áp có dầu và trạm biến áp ngoài trời phải có hố xả dầu
sự cố.
Riêng những máy biến áp từ 320 kVA trở xuống đặt riêng rẽ ở xa khu vực
sản xuất, xa khu vực nhà ở và những máy biến áp đặt trong lưới điện từ 10kV trở
xuống thì có thể không cần xây hố xả dầu sự cố, nhưng phải có rãnh hoặc ống
thoát dầu.
Máy biến áp ngoài trời có chứa 600 kg dầu trở lên thì dưới máy biến áp phải
đổ đá sỏi với bề dầy lớp đá tối thiểu 250mm và đổ rộng ra 1m ở xung quanh
máy.
Điều 19:
Trang bị chiếu sáng và các công tắc đèn trong buồng đặt máy biến áp phải
bố trí thế nào để đủ ánh sáng cần thiết và bảo đảm an toàn cho người công tác.
Điều 20:
Phải bảo đảm điều kiện dễ dàng, thuận tiện, an toàn cho việc theo dõi mức
dầu trong máy, trong các sứ có dầu, kiểm tra rơle ga, lấy mẫu dầu... Các bộ phận
bố trí trên cao (từ 3m trở lên) của máy biến áp đang làm việc khi quan sát phải
có thang đặt cố định.
Những dây dẫn trong mạch bảo vệ, đo lường, tín hiệu, tự động bố trí trên
máy biến áp có dầu phải là loại dây có cách điện chịu được dầu biến áp.
Điều 21:
Máy biến áp công suất từ 4.000 kVA trở lên phải đặt trang bị tái sinh dầu
trong vận hành (bình lọc hấp thụ, xi phông nhiệt). Dầu trong bình dầu phụ của
máy biến áp phải được bảo vệ tránh tiếp xúc trực tiếp với không khí xung quanh.
Trên bình dầu phụ phải có ống chỉ mức dầu được đánh dấu với +5, +25 và +40
0
C hoặc đồng hồ báo mức dầu.
Máy biến áp có trang bị bộ phận chuyên dùng để chống nhiễm ẩm dầu phải
được vận hành cùng với sự làm việc của máy biến áp.
Các bộ phận kể trên phải được vận hành theo quy trình của nhà chế tạo.
Dầu trong các sứ cách điện có dầu phải được bảo vệ chống ôxy hoá và
chống nhiễm ẩm.
Điều 22:
Các máy biến áp có trang bị rơle hơi phải đảm bảo ống dẫn dầu từ máy lên
bình dầu phụ có độ nghiêng không dưới 2 - 4%. Các máy biến áp kiểu hở phải hố
trí cho mặt máy nghiêng về phía rơle hơi không dưới 1 - 1,5%. Một số máy biến
áp loại mới có thể không cần áp dụng quy định này nếu nhà chế tạo máy biến áp
cho phép.
Điều 23:
Những máy biến áp lắp mới phải được xem xét ruột máy (bằng cách rút vỏ,
rút ruột,mở cửa thăm...) trước khi đưa vào vận hành, trừ trường hợp cósự quy
định đặc biệt của nhà chế tạo hoặc máy biến áp kiểu kín.
Điều 24:
Mỗi máy biến áp phải có những tài liệu kỹ thuật sau đây mới được đưa vào
vận hành.
a. Lý lịch kỹ thuật của nhà chế tạo đi kèm theo máy.
b. Các biên bản thí nghiệm, nghiệm thu, bàn giao...
c. Sổ ghi chép những công việc sửa chữa,cải tiến, thí nghiệm định kỳ đã
thực hiện trong quá trình quản lý.
d. Sổ nhật ký vận hành của máy biến áp (phụ tải, điện áp, dòng điện, nấc
điện áp, nhiệt độ dầu v.v...) để tại chỗ đặt máy biến áp hoặc ở chỗ làm việc của
nhân viên trực ca.
Chương II :CÁC CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CHO PHÉP CỦA MÁY BIẾN ÁP
Trong điều kiện làm mát quy định máy biến áp có thể vận hành với những
tham số ghi trên nhãn máy.
Điều 26:
Máy biến áp dầu làm mát bằng quạt gió (QG) cho phép ngừng quạt gió
trong trường hợp phụ tải dưới định mức và nhiệt độ lớp dầu phía trên không quá
45 độ C.
Hệ thống quạt gió phải được tự động đóng khi nhiệt độ dầu đạt tới 55 độ C
hoặc khi phụ tải đạt tới định mức không phụ thuộc vào nhiệt độ dầu.
Điều 27:
Ở phụ tải định mức nhà chế tạo không quy định nhiệt độ dầu thì nhiệt dầu ở
lớp trên không được cao qúa:
a. 75 độ C đối với máy biến áp làm mát kiểu dầu tuần hoàn cưỡng bức- quạt
gió cưỡng bức (KD).
b. 90 độ C đối với máy biến áp làm mát tự nhiên bằng dầu (D) và đối với máy
biến áp làm mát theo kiểu (QD).
c. 70 độ C đối với nhiệt độ dầu ở trước bình làm mát dầu của các máy biến áp
làm mát kiểu dầu tuần hoàn cưỡng bức nước làm mát cưỡng bức (ND).
Điều 28:
Đối với máy biến áp có hệ thống làm mát cưỡng bức cho phép các chế độ
làm việc sự cố khi ngừng tuần hoàn nước hoặc ngừng quạt gió. Thời gian làm
việc ở các chế độ này xác định như sau:
1 . Máy biến áp làm mát theo kiểu QG khi tất cả các quạt gió bị cắt do sự
cố được phép làm việc với phụ tải định mức tuỳ theo nhiệt độ không khí xung
quanh trong thời gian như sau:
2. Máy biến áp làm mát theo kiểu KD và ND được phép:
a. Làm việc với phụ tải địnhmức trong thời gian 10 phút hoặc làm việc ở
chế độ không tải trong thời gian 30 phút kể từ khi ngừng làm mát cưỡng bức
nhưng vẫn duy trì tuần hoàn dầu. Nếu hết thời gian kể trên nhiệt độ dầu ở lớp
trên cùng chưa tới 80 độ C- đối với máy biến áp công suất từ 250 MVA trở xuống;
75 độ C- đối với máy biến áp trên 250 MVA thì cho phép tiếp tục làm việc với phụ
tải định mức cho đến khi đạt đến nhiệt độ kể trên nhưng không được kéo dài quá một giờ.
b. Làm việc lâu dài với phụ tải giảm bớt khi nhiệt độ dầu ở lớp trên cùng
không quá 45 độ C khi ngừng toàn bộ hoặc một phần quạt gió, hoặc ngừng nước
tuần hoàn nhưng vẫn duy trì tuần hoàn dầu. Máy biến áp loại tuần hoàn dầu định
hướng trong các cuộn dây phải vận hành theo tài liệu hướng dẫn của nhà chế
tạo.
Điều 29:
Cho phép máy biến áp được vận hành với điện áp cao hơn định mức của
nấc biến áp đang vận hành.
a. Lâu dài 5% khi phụ tải định mức và 10% khi phụ tải không quá 0,25 phụ
tải định mức.
b. Ngắn hạn 10% (dưới 6 giờ một ngày) với phụ tải không quá định mức.
Điều 30:
Các máy biến áp lực cho phép quá tải bình thường, thời gian và mức độ quá
tải phụ thuộc vào đồ thị phụ tải ngày, nhiệt độ môi trường làm mát và mức độ
non tải khi thấp điểm. Có thể căn cứ vào các bảng 2 và 3 để đánh giá mức độ quá
tải cho phép.
Bảng 2:
Thời gian quá tải cho phép đối với máybiến áp làm mát kiểu D và QG
Bảng 3:
Thời gian quá tải cho phép đối với máybiến áp làm mát kiểu KD và ND.
Điều 31:
Các máy biến áp với mọi kiểu làm mát không phụ thuộc thời gian và trị số
của phụ tải trước khi sự cố, không phụ thuộc nhiệt độ môi trường làm mát, khi
sự cố đều được phép quá tải ngắn hạn cao hơn dòng điện định mức theo các giới
hạn sau đây, (xem bảng 4 và 5).
Bảng 4:
Bảng 5:
Đối với máy biến áp khô.
Các máy biến áp đều được phép quá tải cao hơn dòng điện định mức tới
40% với tổng số thời gian không quá 6 giờ trong một ngày đêm trong 5 ngày liên
tiếp, với điều kiện hệ số phụ tải ban đầu không quá 0,93 (khi đó phải tận dụng
hết khả năng mọi trang bị làm mát của máy biến áp).
Điều 32:
Các máy biến áp phải chịu được dòng ngắn mạch có trị số không quá 25 lần
dòng định mức mà không hư hại hoặc biến dạng. Thời gian cho phép dòng ngắn
mạch chạy qua tính bằng giây không được lớn hơn t
k
xác định theo biểu thức.
Trong đó: K là bội số tính toán của dòng ngắn mạch đối với nấc điện áp chính.
Trong đó: Uk là điện áp ngắn mạch của máy biến áp, %
Sdm là công suất máy biến áp.
Sk là dung lượng ngắn mạch của lưới.
Trường hợp máy biến áp được cấp nguồn từ lưới có công suất vô hạn ta có
thể xem bảng 6:
Bảng 6:
Thời gian cho phép dòng ngắn mạch máy biến áp.
Đối với máy biến áp từ 35kv trở xuống.
tk= 4 giây.
Đối với máy biến áp từ 35kV trở lên:
tk= 3 giây.
Điều 33:
Để cân bằng phụ tải giữa các máy biến áp đang làm việc song song có điện
áp ngắn mạch khác nhau, cho phép thay đổi tỷ số biến áp trong giới hạn nhỏ
bằng cách thay đổi nấc điện áp với điều kiện khi đó không có máy biến áp nào
quá tải.
Điều 34:
Đối với máy biến áp có các cuộn dây đấu theo sơ đồ “sao- sao” phía điện áp
thấp có điểm trung tính kéo ra ngoài, dòng điện qua điểm trung tính không được
vượt quá 25% dòng điện pha định mức.
Điều 35:
Điểm trung tính của cuộn dây từ 110 kV của máy biến áp tự ngẫu phải làm
việc ở chế độ nối đất trực tiếp. Các máy biến áp 110 và 220 kV với điện áp thí
nghiệm điểm trung tính tương ứng bằng 100 và 200kV có thể làm việc với điểm
trung tính không nối đất với điều kiện điểm trung tính đó được bảo vệ bằng
chống sét van. Sau khi tiến hành những tính toán có căn cứ cho phép máy biến
áp 110kV có điện áp thí nghiệm điểm trung tính bằng 85kV được làm việc với
trung tính không nối đất với điều kiện điểm trung tính đó được bảo vệ bằng
chống sét van.
Chương III KIỂM TRA MÁY BIẾN ÁP TRONG VẬN HÀNH BÌNH THƯỜNG
Để bảo đảm máy biến áp làm việc lâu dài và an toàn cần:
- Giám sát nhiệt độ, phụ tải và mức điện áp.
- Giám sát nghiêm ngặt tiêu chuẩn về chất lượng dầu và đặc tính cách điện.
-Bảo quản tốt các thiết bị làm mát, điều chỉnh điện áp,bảo vệ dầu và các
trang bị khác.
Điều 37:
Khi xem xét máy biến áp đang vận hành, nhân viên trực nhật phải đứng ở
ngưỡng cửa phòng đặt máy phía trước rào chắn. Có thể được phép vượt qua rào
chắn với điều kiện là các mặt bích phía dưới các sứ trên nắp máy biến áp và
những bộ phận có điện trên lối đi không có rào che phải ở độ cao tối thiểu là:
- 2,5m đối với điện áp từ 10kV trở xuống.
- 2,75m đối với điện áp 35kV.
- 3,5m đối với điện áp 110kV.
Điều 38:
Đối với các máy biến áp của nhà máy điện hoặc trạm có người trực phải
căncứ vào các đồng hồ đo lường của bảng điện để kiểm tra vận hành.Mỗi giờ
phải ghi thông số của các đồng hồ (trong đó có cả nhiệt độ dầu máy biến áp) một
lần. Nếu máy vận hành quá tải thì nửa giờ ghi thông số một lần.
Đối với các máy biến áp không có người trực mỗi lần đi kiểm tra phải ghi
điện áp, dòng điện và nhiệt độ dầu vào sổ vận hành. Đối với các máy biến áp
phân phối phải kiểm tra phụ tải ba pha vào giờ cao điểm xem có cân bằng không,
nếu cần phải có biện pháp phân bố lại phụ tải.
Điều 39:
Xem xét, kiểm tra (không cắt điện) máy biến áp phải tiến hành theo định kỳ
sau:
a) Ở nơi có người trực thường xuyên ít nhất mỗi ca một lần đối với các máy
biến áp chính của nhà máy điện và trạm biến áp, các máy biến áp tự dùng làm
việc và dự phòng, các cuộn điện kháng. Ba ngày một lần đối với các máy biến áp
khác.
b) Ở nơi không có người trực thường xuyên: Đối với những máy biến áp từ
1000 kVA trở lên 15 ngày một lần; những máy biến áp khác 3 tháng một lần, tuỳ
theo yêu cầu cụ thể.
Kiểm tra bất thường máy biến áp phải được tiến hành khi:
a. Nhiệt độ máy đột ngột thay đổi.
b. Khi máy bị cắt bởi rơle hơi hoặc so lệch.
Điều 40:
Nội dung công việc kiểm tra, xem xét bên ngoài các máy biến áp bao gồm:
1 . Kiểm tra bề mặt các sứ cách điện, sứ đầu vào (có rạn nứt, bẩn, chảy dầu).
2. Kiểm tra vỏ máy biến áp có nguyên vẹn và có bị rỉ dầu không.
3. Kiểm tra mầu sắc dầu trong bình dầu phụ,mức dầu trong bình dầu phụ và
các sứ có dầu, áp lực dầu trong các sứ áp lực.
4. Kiểm tra trị số của nhiệt kế, áp kế.
5. Kiểm tra các trang bị làm mát và các trang bị tái sinh dầu liên tục.
6. Kiểm tra rơle hơi,van an toàn, mặt kính ống phòng nổ, vịtrí của van giữa
rơle và bình dầu phụ.
7. Kiểm tra các thiết bị báo tín hiệu
8. Kiểm tra các đầu cáp, thanh dẫn, các điểm nối xem tiếp xúc có bị phát
nóng không.
9. Kiểm tra hệ thống nối đất.
10.Kiểm tra tiếng kêu của biến áp có bình thường không.
11.Kiểm tra màu sắc của hạt hút ẩm trong bình thở.
12.Kiểm tra tình trạng buồng biến áp:cửa sổ, cửa ra vào, lỗ thông hơi, đèn
chiếu sáng, lưới chắn...
13. Kiểm tra các trang bị phòng, chữa cháy.
Điều 41 :
Dầu trong các máy biến áp làm mát cưỡng bức phải được tuần hoàn liên tục
không phụ thuộc mức phụ tải. Không được phép vận hành máy biến áp làm mát
cưỡng bức nếu không đồng thời đưa vào làm việc các bộ báo tín hiệu ngừng dầu
tuần hoàn, ngừng tuần hoàn nước làm mát hoặc ngừng quạt gió.
Trong các máy biến áp có hệ thống làm mát dầu bằng nước, áp suất dầu
phải cao hơn áp suất nước làm mát ít nhất 0,2 KG/cm
2
. Phải cho tuần hoàn nước
sau khi chạy bơm dầu, khi ngừng chỉ cắt bơm dầu sau khi đã ngừng bơm nước.
Điều 42:
Các trang bị phòng chống cháy đặt cố định, trang bị thu gom dầu dưới máy
biến áp và ống xả dầu từ đó ra phải được bảo quản trong trạng thái sẵn sàng làm
việc.
Điều 43:
Mức dầu trong các máy biến áp đang làm việc phải ngang vạch dấu tương
ứng với nhiệt độ dầu trong máy hoặc đồng hồ báo mức dầu báo đúng nhiệt độ
dầu máy.
Điều 44:
Việc đóng điện vào máy biến áp phải tiến hành theo trình tự sau:
1 . Trước khi đóng điện vào máy biến áp phải kiểm tra cẩn thận, tháo gỡ hết
các dây nối đất, xem lại biển báo, rào ngăn tạm thời. Các phiếu công tác cho
phép làm việc phải thu hồi.
2.Nếu từ lần thử nghiệm sau cùng đến khi đóng điện thời gian quá 3 tháng
thì phải tiến hành đo điện trở cách điện,tăng góc tổn thất điện môi (đối với cấp
điện áp cao hơn 35kV),lấy mẫu dầu phân tích giản đơn theo các mục từ 1,6,10
(xem phụ lục 1). Riêng đối với các máy biến áp có nạp nitơ hoặc có màng chất
dẻo bảo vệ dầu thì thử thêm mục 11.
Nếu máy biến áp nối với dây cáp ngầm không qua dao cách ly thì có thể đo
điện trở cách điện máy biến áp cùng với cáp nhưng khi đo phải cắt máy biến áp
đo lường (nếu có).
3. Kiểm tra trị số các nhiệt kế, áp kế, kiểm tra mức dầu.
4. Kiểm tra xem trong rơle có khí không, van cắt nhanh, các van đường ống
dẫn dầu, van hệ thống làm mát van lên rơ le hơi có mở không.
Kiểm tra vị trí nấc bộ điều chỉnh điện áp xem có đúng với phiếu chỉnh định
không.
Kiểm tra xem trên máy biến áp có dị vật không.
5. Kiểm tra nối đất vỏ máy và có vết chảy dầu trên máy không.
6. Kiểm tra xem các đầu ra và trung tính của máy biến áp có được đấu vào
chống sét van nằm trong sơ đồ bảo vệ máy không.
7. Đóng điện vào máy biến áp theo các quy định tại điều 46.
Điều 45:
Việc đóng điện xung kích vào các máy biến áp sau lắp đặt, sửa chữa tiến
hành theo trình tự sau:
1 . Tiến hành tất cả các mục như điều 44 mục 1 -6.
2. Kiểm tra sự tác động của toàn bộ hệ thống rơle bảo vệ máy. Sau khi kiểm
tra xong phải có biên bản xác nhận.
Tiếp điểm rơle hơi chuyển sang vị trí cắt,rơ le quá dòng đặt thời gian 0
giây.
3. Kiểm tra sự tác động của tất cả các máy cắt theo tất cả các bảo vệ.
4. Máy biến áp đóng diện khi tất cả các bảo vệ đều được đưa vào làm việc.
5. Việc đóng điện máy biến áp chỉ tiến hành ít nhất là sau 12 giờ kể từ lần bổ
sung dầu cuối cùng.
6. Có thể đóng điện máy biến áp từ một trong các phía cao, trung,hạ áp.
Nếu có điều kiện thì nâng điện áp từ từ lên định mức,nếu không có điều kiện
thì đóng điện định mức ít nhất 30 phút để nghe và quan sát trạng thái máy biến
áp.
Trong thời gian này cho phép cắt các quạt gió cưỡng bức của máy biến áp
kiểu QG và KD nhưng nhiệt độ lớp dầu trên cũng không được vượt quá 60 độ C.
7. Tiến hành đóng xung kích máy biến áp ở điện áp định mức để kiểm tra xem
các bảo vệ chỉnh định có đúng không (không tác động khi xung động dòng điện
từ hoá).
8. Nếu kết quả xung kích tốt máy được phép mang tải vào đưa vào vận hành.
Điều 46:
Khi thao tác đóng và cắt máy biến áp cần theo các quy định dưới đây:
1 . Đóng điện vào máy biến áp phải tiến hành từ phía cung cấp điện đến có
trang bị bảo vệ ở tình trạng sẵn sàng cắt khi máy biến áp sự cố.
2. Nếu có máy cắt phải dùng máy cắt để đóng hoặc cắt.
3. Hiện nay hầu hết các trạm đều thực hiện đóng điện vào MBT bằng máy
cắt.
Nếu không có máy cắt có thể dùng dao cách ly3 pha có bộ truyền động cơ
khí hoặc bộ truyền động điện để đóng cắt dòng diện không tải các máy biến áp
theo bảng 7. Các dao cách ly 3 pha thông dụng kiểu trong nhà hoặc ngoài trời
cấp điện áp từ 10kV trở xuống cho phép đóng cắt không tải máy biến áp theo
bảng 7. Các dao cách ly 3 pha thông dụng kiểu trong nhà hoặc ngoài trời cấp
điện áp từ 10kV trở xuống cho phép đóng cắt không tải máy biến áp từ 1 000
kVA trở xuống.
Dòng từ hoá tối đa cho phép đóng cắt của máy biến áp được xác định dựa
trên điều kiện quá áp cho phép vận hành đến 105% điện áp ứng với nấc điện áp
tương ứng và khi đó dòng điện từ hoá biến áp tăng lên 1,5 lần so với định mức.
4. Việc cắt dòng điện không tải của máy biến áp có cuộn dập hồ quang ở
trung tính chỉ được tiến hành sau khi cắt các cuộn dập hồ quang này.
5. Đối với những máy biến áp đấu theo sơ đồ khối “máy phát- biến áp” khi
đóng vào vận hành nên dùng máy phát điện tăng điện áp lên dần dần đến điện
áp định mức.
6. Đối với các máy biến áp có bộ điều chỉnh điện áp dưới tải (ĐAT) sau khi
cắt các phụ tải phía hộ tiêu thụ thì nên tăng hệ số biến áp trước khi dùng dao
cách ly cắt phía nguồn cung cấp.
Điều 47:
Tất cả các máy biến áp dự phòng đều phải đủ điều kiện sẵn sàng để đóng
điện bất cứ lúc nào.
Đối với những máy biến áp dự phòng mà thời gian ngừng vận
hành kéo dài thì phải quy định thời gian đóng điện để sấy.
Rơle của máy biến áp dự phòng vẫn phải để ở vị trí phát tín hiệu
để kịp thời phát hiện mức dầu hạ thấp.
Điều 48:
Đối với những máy biến áp không có bộ ĐAT, trước khi thay đổi nấc phải
cắt điện và phải tiến hành theo phiếu công tác.
Đối với những máy biến áp từ 1000 kVA trở lên sau khi chuyển nấc cần
kiểm tra lại điện trở một chiều các cuộn dây. Đối với những máy biến áp dưới
1000kVA sau khi chuyển nấc cần kiểm tra thông mạch.
Điều 49:
Đối với những máy biến áp có bộ ĐAT cần duy trì thường xuyên sự tương
ứng giữa điện áp lưới và điện áp nấc điều chỉnh.
Không được vận hành lâu dài máy biến áp với bộ ĐAT không làm việc.
Điều 50:
Bộ ĐAT của máy biến áp phải được vận hành theo đúng quy địnhcủa nhà
chế tạo. Tình hình thay đổi nấc điện áp phải được ghi vào nhật ký vận hành.
Không được phép chuyển nấc điều chỉnh trong trườnghợp máy
biến áp đang quá tải nếu dòng phụ tải vượt quá dòng định mức của bộ
ĐAT.
Điều 51:
Ở từng nơi, phải xác định số lượng máy biến áp làm việc đồng thời tuỳ theo
biểu đồ phụ tải có xét đến độ tin cậy cung cấp điện cho các hộ dùng điện.
Ở các lưới phân phối điện áp 15kV trở xuống, phải tiến hành đo phụ tải và
điện áp của các máy biến áp mỗi quý ít nhất một lần vào thời kỳ phụ tải cao nhất
và thấp nhất.
Điều 52:
Máy biến áp được phép làm việc song song với các điều kiện sau:
a. Tổ đấu dây giống nhau.
b. Tỷ số biến áp bằng nhau hoặc chênh lệch không quá 0,5%
c. Điện áp ngắn mạch chênh lệch không quá ± 10%.
d. Hoàn toàn đồng vị pha.
Điều 53:
Đối với máy biến áp sau khi lắp xong hoặc sau khi tiến hành những công
việc có thể làm thay đổi vị trí pha thì trước khi đưa vào vận hành trở lại phải thử
đồng pha với lưới hoặc với máy biến áp khác sẽ làm việc song song.
Điều 54:
Khi mức dầu trong máy biến áp lên cao quá mức quy định phải tìm ra
nguyên nhân. Khi chưa tách rời mạch cắt của rơle hơi thì không được mở các
van tháo dầu và van xả khí, không được làm những thao tác khác để tránh rơle
hơi tác động nhầm.
.....xem tiếp chương 4>>
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét